Giải SGK SGK Chuyên đề học tập GD Kinh tế & Pháp luật 10 Lớp 10 Tập 1 - KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
💡
Tóm tắt nội dung: Lời giải chi tiết Bài 6: Khái niệm và nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam môn Sgk Chuyen De Hoc Tap Giao Duc Kinh Te Va Phap Luat 10 Lớp 10 Tập 1 (sách Kết nối tri thức với cuộc sống). Hướng dẫn giải đầy đủ, chi tiết câu hỏi và bài tập giúp học sinh dễ dàng ôn tập và học tốt.
💡 Kiến thức trọng tâm
Bài học tìm hiểu về nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự, đồng thời luyện tập qua các bài tập nhận định, phân tích tác hại và xác định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
🔑 Công thức & Quy tắc cốt lõi:
Pháp luật hình sự căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để phân loại tội phạm, xác định hình phạt và cụ thể hoá hình phạt.
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
✍️ Hướng dẫn giải chi tiết
❓ Đề bài:
Em đồng tình hay không đồng tình với nhận định nào dưới đây về tội phạm? Vì sao?
🔑 Lời giải chi tiết:
a. Không đồng tình. Vì chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự mới là tội phạm, không phải mọi hành vi nguy hiểm cho xã hội đều là tội phạm.
b. Đồng tình. Đây là hai trong số các dấu hiệu cơ bản cấu thành tội phạm.
c. Không đồng tình. Hành vi đe dọa sẽ gây ra thiệt hại chưa phải là tội phạm hoàn thành trừ khi luật định có quy định riêng hoặc cấu thành tội phạm dạng đe dọa.
d. Không đồng tình. Đối với mỗi tội danh, thông thường chỉ áp dụng một hình phạt chính, có thể kèm theo hình phạt bổ sung.
e. Không đồng tình. Hình phạt được áp dụng dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng chứ không chỉ dựa vào hậu quả.
g. Không đồng tình. Mục đích của hình phạt không chỉ để trừng trị người phạm tội mà còn nhằm giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
b. Đồng tình. Đây là hai trong số các dấu hiệu cơ bản cấu thành tội phạm.
c. Không đồng tình. Hành vi đe dọa sẽ gây ra thiệt hại chưa phải là tội phạm hoàn thành trừ khi luật định có quy định riêng hoặc cấu thành tội phạm dạng đe dọa.
d. Không đồng tình. Đối với mỗi tội danh, thông thường chỉ áp dụng một hình phạt chính, có thể kèm theo hình phạt bổ sung.
e. Không đồng tình. Hình phạt được áp dụng dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng chứ không chỉ dựa vào hậu quả.
g. Không đồng tình. Mục đích của hình phạt không chỉ để trừng trị người phạm tội mà còn nhằm giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
❓ Đề bài:
Hãy chỉ ra tác hại và hậu quả của các hành vi vi phạm pháp luật hình sự sau
🔑 Lời giải chi tiết:
a. Đua xe trái phép: Gây mất trật tự an toàn giao thông, đe dọa tính mạng, sức khỏe của bản thân người đua và những người tham gia giao thông khác, có thể dẫn đến tai nạn chết người.
b. Trộm cắp tài sản của công dân: Gây tổn hại về tài sản cho người khác, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, gây tâm lý hoang mang trong xã hội.
c. Trả thù người tố cáo: Xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo, làm nhụt chí người đấu tranh chống cái ác, vi phạm nghiêm trọng kỷ cương pháp luật.
d. Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân: Gây mất ổn định chính trị - xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng xấu đến uy tín của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân.
e. Vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới: Gây thất thu thuế cho Nhà nước, phá hoại nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện cho các tội phạm buôn lậu và các tội phạm khác phát triển.
b. Trộm cắp tài sản của công dân: Gây tổn hại về tài sản cho người khác, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, gây tâm lý hoang mang trong xã hội.
c. Trả thù người tố cáo: Xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo, làm nhụt chí người đấu tranh chống cái ác, vi phạm nghiêm trọng kỷ cương pháp luật.
d. Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân: Gây mất ổn định chính trị - xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng xấu đến uy tín của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân.
e. Vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới: Gây thất thu thuế cho Nhà nước, phá hoại nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện cho các tội phạm buôn lậu và các tội phạm khác phát triển.
❓ Đề bài:
Trường hợp nào sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự? Vì sao?
🔑 Lời giải chi tiết:
a. Q (14 tuổi) không phải chịu trách nhiệm hình sự vì hành vi vô ý gây thương tích (do đẩy cửa không nhìn thấy) không thuộc các tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý mà luật định cho độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16.
b. O (15 tuổi) phải chịu trách nhiệm hình sự vì 15 tuổi thuộc độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và trộm cắp tài sản (trị giá 3 triệu đồng trở lên) là tội phạm.
c. N (16 tuổi) phải chịu trách nhiệm hình sự vì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (tội cố ý gây thương tích).
d. Y (16 tuổi) và H (14 tuổi): Y (16 tuổi) phải chịu trách nhiệm hình sự vì đủ tuổi và hành vi trộm cắp xe máy là tội phạm. H (14 tuổi) cần xem xét cụ thể giá trị xe máy và lỗi (cố ý hay vô ý) để xác định có phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm rất nghiêm trọng/đặc biệt nghiêm trọng hay không theo quy định pháp luật.
b. O (15 tuổi) phải chịu trách nhiệm hình sự vì 15 tuổi thuộc độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và trộm cắp tài sản (trị giá 3 triệu đồng trở lên) là tội phạm.
c. N (16 tuổi) phải chịu trách nhiệm hình sự vì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (tội cố ý gây thương tích).
d. Y (16 tuổi) và H (14 tuổi): Y (16 tuổi) phải chịu trách nhiệm hình sự vì đủ tuổi và hành vi trộm cắp xe máy là tội phạm. H (14 tuổi) cần xem xét cụ thể giá trị xe máy và lỗi (cố ý hay vô ý) để xác định có phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm rất nghiêm trọng/đặc biệt nghiêm trọng hay không theo quy định pháp luật.
